Sử thi Mahabharata mô tả UFOs




su thi Mahabharata
Krishna và Arjuna
Dưới đây là trích dẫn trong các bộ cổ văn Mahabharata và Ramayana, những đoạn nói về các thiết bị bay tiền sử, cũng như về các “Vũ khí tối hậu”(“Final Weapon” – dịch nguyên văn sát nghĩa từ Mahabharata bản tiếng Ấn Độ không thêm bớt) mà những người thượng cổ đã dùng để kết thúc chiến tranh :
Mahabharata  Đoạn này kể về Krisna khi anh bay lên trời đuổi theo Salva:
"His Saubha clung to the sky at a league's length...He threw at me rockets, missiles, spears, spikes, battle-axes, three-bladed javelins, flame-throwers, without pausing....The sky...seemed to hold a hundred suns, a hundred moons...and a hundred myriad stars. Neither day nor night could be made out, or the points of compass."
 “Chiếc Saubha của hắn đứng yên trong không gian ở một độ cao một lý (4km) … Hắn bắn về phía ta các tên lửa, các mũi lao, những cây đinh, rìu chiến, lao 3 lưỡi, những cục lửa, không ngưng nghỉ … Bầu trời … dường như có hàng trăm mặt trời, hàng trăm mặt trăng … và hàng trăm vạn ngôi sao. Không thể biết là ngày hay đêm, kim la bàn cũng không dùng được”
Cảnh tượng nhiều vì sao, nhiều hành tinh lớn nhỏ xuất hiện như thế này chỉ xuất hiện khi phi thuyền tiến nhập vào không gian vũ trụ giữa các vì sao. Chúng ta ở thời đại kính viễn vọng Hubble, thám hiểm vũ trụ, các bộ phim khoa học viễn tưởng mới có thể hiểu được nó. Ngay cả hiện tượng không phân biệt ngày đêm và la bàn không hiệu lực họ cũng biết. Làm sao có thể tưởng tượng ra tất cả chừng đó thứ nếu họ chưa bao giờ thực tế bay vào vũ trụ?

Mahabharata  Sau đó khi Saubha chuyển sang chế độ tàng hình
"I quickly laid on an arrow, which killed by seeking out sound, to kill them...All the Danavas [troops in Salva's army] who had been screeching lay dead, killed by the blazing sunlike arrows that were triggered by sound."
 “Ta nhanh chóng lên một mũi tên, loại tên tầm giết kẻ thù bằng cách truy tìm theo tiếng động… Tất cả bọn lính Danava đang kêu thất thanh nằm chết, bị giết bởi những mũi tên cháy sáng như ánh mặt trời”

The Ramayana As Von Daniken recounts from the original text:
When he begins his flight from the mountains, the tops of the cliffs break, the foundations of the mountains shake. Giant trees are stripped of their boughs and broken, a shower of wood and leaves falls to the ground. The mountain birds and animals flee to their hiding places.
“Khi ông bắt đầu chuyến bay từ những rặng núi, những đỉnh của các vách đá nhô ra biển vỡ ra, dãy núi chấn động. Những cây cổ thụ gãy cành và đổ, một cơn mưa gỗ và lá cây đổ xuống mặt đất. Những con chim núi và thú vật chạy tìm nơi ẩn trốn”

There is another account of such a weapon:     - Mausola Purva
"Cuka, flying on board a high-powered vimana, hurled on to the triple city a single projectile charged with all the power of the universe. An incandescent column of smoke and flame, as bright as ten thousand suns, rose in all the splendor... When the vimana returned to Earth, it looked like a splendid block of antimony resting on the ground."
 “Cuka, bay trong một vimana rất mạnh, phóng về phía nhóm 3 thành phố một vật đã nạp đầy sức mạnh của vũ trụ. Một cột khói và lửa, sáng chói như 10 ngàn mặt trời…Khi chiếc vimana trở về mặt Đất, nó trông như một khối antimon rực rỡ nằm trên mặt đất”.
Đọc đoạn này mấy ai trong chúng ta không liên tưởng đến sự kiện đó?

Ramayana     trích dẫn bởi N.Dutt (1891):
“At Rama’s behest the magnificent chariot rose up to a mountain of cloud with a tremendous din…”
“Dưới lệnh của Rama cỗ xe lộng lẫy bay thẳng lên một ngọn núi đầy mây cùng với một tiếng động đinh tai nhức óc …”

Ramayana       chương ‘Rama và Sita’
Phần chuyện về “Rama và Sita” trong Ramayana :
Hearing about the kidnapping of his lovely wife, Sita, Rama cries : “ Fly out the aerial cars at once”.
Khi nghe tin vợ, nàng Sita, bị bắt cóc, Rama hét lớn: “Các cỗ xe lên thẳng đồng loạt xuất phát ngay”

Mahabharata
Trong một chương khác vũ khí đáng sợ Agneya, “một loại tên lửa không có khói” được sử dụng bởi người anh hùng Adwattan.
"Dense arrows of flame, like a great shower, issued forth upon creation, encompassing the enemy....A thick gloom swiftly settled upon the Pandava hosts. All points of the compass were lost in darkness. Fierce winds began to blow. Clouds roared upward, showering dust and gravel.
Birds croaked madly...the very elements seemed disturbed. The sun seemed to waver in the heavens. The earth shook, scorched by the terrible violent heat of this weapon. Elephants burst into flame and ran to and fro in a frenzy...over a vast area, other animals crumpled to the ground and died. From all points of the compass the arrows of flame rained continuously and fiercely."
“Những loạt tên lửa dày đặc, như một cơn mưa lớn, bắn thẳng ra phía trước, bao vây lấy kẻ thù… Một màn đêm dày đặc phủ xuống đoàn quân Pandava. Tất cả các kim la bàn mất phương hướng. Những trận gió hung dữ bắt đầu thổi. Những cuộn mây ầm ầm cuộn lên, bụi và sỏi trút xuống như mưa
Những con chim kêu rền rĩ như điên dại … Các nguyên tố căn bản (tứ đại: đất, nước, gió, lửa) dường như đảo lộn. Mặt trời dường như chập chờn rung rinh trên các thiên đường. Mặt đất rung lắc, bị thiêu cháy bởi sức nóng dữ dội của thứ vũ khí này. Những con voi bốc cháy và chạy loạn điên cuồng … trên một vùng rộng lớn, những con thú khác ngã gục xuống mặt đất và chết. Từ mọi hướng những tia lửa bắn xuống liên tục và dữ dội”



Vimana

 Mahabharata
"Gurkha, flying in his swift and powerful Vimana, hurled against the three cities of the Vrishnis and Andhakas a single projectile charged with all the power of the Universe. An incandescent column of smoke and flame as bright as the thousand suns rose in all its splendour... it was an unknown weapon...An iron thunderbolt, a gigantic messenger of death, which reduced to ashes the entire race of the Vrishnis and the Andhakas....The corpses were so burned as to be unrecognizable. The hair and nails fell out; pottery broke without apparent cause, and the birds turned white....After a few hours all foodstuffs were infected.... To escape from this fire, the soldiers threw themselves in streams to wash themselves and their equipment..."
 “Gurkha, bay trong chiếc Vimana mạnh mẽ và tốc độ, phóng về phía 3 thành phố của người Vrishnis và Andhakas một vật đã nạp đầy sức mạnh của Vũ trụ. Một cột khói và lửa cháy nóng sáng chói như hàng ngàn mặt trời… Đó là một thứ vũ khí chưa từng được biết đến… Một tiếng sét, một sứ giả khổng lồ của cái chết, thứ mà biến toàn bộ 2 dân tộc Vrishnis và dân tộc Andhakas thành tro bụi… Những thi hài bị cháy đến mức không thể nhận dạng được. Tóc và móng tay chân bong ra; đồ gốm vỡ tan không rõ nguyên nhân, những con chim biến thành màu trắng… Sau vài giờ mọi thực phẩm đều bị nhiễm độc …Để thoát khỏi lửa, những người lính thả mình vào những dòng nước để rửa bản thân và các thiết bị của mình …”

Mahabharata,   Book of Karnaparvan
"We saw something in heaven that resembled a scarlet cloud, like the gruesome flames of a burning fire. A monstrous, black Vimana emerged, shooting gaudy lightened projectiles. The noise sounded like a thousand drums beating at the same time. The Vimana approached the ground with incomparable speed and shot thousands of golden projectiles, followed with huge explosions and hundreds of fiery wheels. A terrifying panic took over."
 “Chúng tôi nhìn thấy một cái gì đó trên thiên đường giống như một đám mây màu đỏ tươi, như một đám lửa cháy khủng khiếp. Một vimana khổng lồ màu đen hiện ra, bắn ra những vật sáng. Âm thanh nghe như một ngàn cái trống đánh lên cùng một lúc. Chiếc vimana bay lại gần mặt đất với một tốc độ không gì sánh nổi và bắn hàng ngàn viên đạn vàng, theo sau bởi những tiếng nổ lớn và hàng trăm bánh xe ngùn ngụt cháy. Nỗi kinh hoàng bao trùm khắp nơi”.

“Dường như Mahabharata đang mô tả một cuộc chiến hạt nhân! Các tham chiếu như thế này không được cách ly ra; nhưng những trận chiến, dùng một mảng chủng loại vũ khí và các cỗ xe lên thẳng kỳ lạ là phổ biến trong tất cả các sách cổ văn Ấn Độ. Một trong số chúng thậm chí còn mô tả một Vimana vs Vailix đánh nhau trên mặt trăng! Phần trên mô tả rất chính xác một vụ nổ hạt nhân trông như thế nào và những tác động phóng xạ của chúng lên dân cư. Nhảy vào nước là cách duy nhất để làm đỡ thương tích tạm thời.
“Khi thành phố Rishi của Mohenjodaro được khai quật bởi các nhà khảo cổ vào cuối thế kỷ 20, họ đã phát hiện những bộ xương nằm ngay trên con đường, một số trong số họ đang nắm tay nhau, như thể một cái chết bất ngờ phủ chụp lấy họ. Những bộ xương này nằm trong số những bộ xương bị nhiễm phóng xạ cao nhất được tìm thấy, ngang với mức của những bộ xương tìm thấy tại Hiroshima và Nagasaki”.
“Hơn nữa, tại Mohenjo-Daro, một thành phố được quy hoạch tốt trên những lưới ô, với một hệ thống thủy lợi cao cấp hơn cả Pakistan và Ấn Độ ngày nay, những con đường bị rải đầy những “cục thủy tinh màu đen”. Những miếng thủy tinh này được khám phá ra là những bình gốm đã bị nóng chảy dưới tác động của nhiệt độ cao đột ngột! (thời gian tương tác ngắn)”.
D. Hatcher Childress, "Ancient Indian Aircraft Technology"

Người Ấn Độ cổ đã bay vào vũ trụ bởi các Vimana


Mahabharata là một trong hai cuốn cổ văn tiếng Phạn (Sanskrit) Ấn Độ cổ, cuốn thứ hai là Ramayana. 

 Mahabharata bao gồm hơn 74.000 câu thơ và những đoạn văn xuôi dài, tổng cộng khoảng 1,8 triệu từ, và là cuốn thiên sử dài nhất trên thế giới, gấp bảy lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad và Odyssey cộng lại. Tác phẩm này được coi là "Đại Bách khoa toàn thư" của Ấn Độ cổ xưa. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Mahabharata ra đời khoảng thế kỷ 5 TCN và được sửa chữa dần, hoàn thiện khoảng thế kỷ 5 SCN. Theo nhiều nhà nghiên cứu hiện đại Mahabharata là Lịch Sử, hơn nữa là lịch sử của một thời kỳ rất cổ xưa, hơn rất nhiều so với những gì được biết.

Mahabharata kể về cuộc chiến tranh của 2 dòng họ KauravaPandava. Cuộc chiến dường như được xếp đặt của các vị Thần cổ xưa Ấn Độ với ý định giải quyết vấn đề dân số quá đông của thế giới (khoảng 14 tỉ người lúc đó, theo nội dung Mahabharata).
“Một thiết bị mà có thể di chuyển về phía trước dựa trên sức mạnh của bản thân nó như một con chim: trên mặt đất, trên nước hoặc trên không, được gọi là “Vimana”, thứ mà có thể bay cao đến thiên đường: từ nơi này đến nơi khác, từ đất nước này đến đất nước khác, hoặc từ thế giới này đến thế giới khác, được gọi là “vimana”, từ các thầy tu của khoa học” (Trích vaimanika-sastra, Cổ văn Ấn Độ)
"An apparatus that can move forward on its own power like a bird: on the ground, on water or in the air, known as "vimana", that can rise through the heaven: from place to place, country to country or from world to world, known as "vimana", from the priests of science".
Một số trong những chiếc vimana dùng như những chiếc máy chiến tranh và những vũ khí phá hoại. Thực tế, nhiều cổ văn Ấn Độ đã mô tả chúng được dùng trong chiến tranh.



vimana
Pushpaka Vinama

Và trong cổ văn Rig Veda, mà nhiều người cho rằng là tài liệu cổ xưa nhất được biết đến, các cỗ xe bay được biết rất rõ và những chủng loại đặc biệt sau đây được mô tả cụ thể:
Jalayan – c xe được thiết kế đ hot đng trong nước và trong không khí (Rig Veda 6.58.3)
Kaara- c
xe được thiết kế hot đng trong nước và trên đt bng (Rig Veda 9.14.1)
Tritala- a vehicle consisting of three stories. (Rig Veda 3.14.1)
Trichakra Ratha - c
xe 3 bánh được thiết kế đ hot đng trong không khí(Rig Veda 4.36.1)
Vaayu Ratha- c
xe chy bng khí hoc sc gió (Rig Veda 5.41.6)
Vidyut Ratha- c
xe được thiết kế đ vn hành bng năng lượng (Rig Veda 3.14.1)
7 thành phố lớn nhất của Rama được biết trong các văn bản truyền thống của Ấn Độ là “The Seven Rishi Cities” “7 thành phố của người Rishi”. Theo những văn bản Ấn Độ cổ đại, những những thiết bị bay này được miêu tả gồm có 2 tầng, hình tròn với những lỗ cửa sổ ở thành tàu và một mái vòm, rất giống với cái mà ta gọi là đĩa bay. Nó bay với “tốc độ của gió”. Có ít nhất 4 loại hình dạng vimana. Một số hình đĩa, một số hình điếu xì gà. Những văn bản cổ xưa của Ấn Độ về vimana là vô số kể, có thể sưu tập đóng thành nhiều tập sách. Những người Ấn Độ cổ, những người đã làm ra những con tàu này, đã viết toàn bộ những hướng dẫn điều khiển bay của từng loại vimana, nhiều trong số chúng đến nay vẫn còn, và một số đã được thậm chí dịch sang tiếng Anh.
Samara Sutradhara là một luận thuyết khoa học quan hệ với mỗi góc cạnh của du hành không gian trong 1 chiếc vimana. Có 230 đoạn liên quan với việc chế tạo, cất cánh, tuần tra hàng ngàn dặm, hạ cánh bình thường và khẩn cấp, và cả những va chạm với chim chóc. Vào năm 1875, Vaimanika Sastra, một văn bản có niên đại thế kỷ 4 trước công nguyên viết bởi Bharadvajy the Wise, dùng ngay cả những văn bản cổ xưa hơn cả nguồn của ông, được khám phá tại một ngôi đền ở Ấn Độ. Nó có liên hệ với cách vận hành của các vimana và gồm cả các thông tin về cách lái, khuyến cáo thận trọng trong những chuyến bay dài, bảo vệ tàu trước các cơn bão và sấm sét và làm thế nào để chuyển chế độ lái sang “năng lượng mặt trời” từ một nguồn năng lượng kiểu như thiết bị phản trọng lực. Vaimanika Sastra (Vymaanika-Shaastra) có 8 chương với các biểu đồ, mô tả 3 loại tàu, gồm cả các thiết bị không thể cháy vỡ. Nó còn đề cập đến 31 phần chủ chốt của những thiết bị này và 16 vật liệu chế tạo ra chúng, thứ mà hấp thụ ánh sáng và nhiệt; và lý do vì sao chúng được cho là thích hợp để chế tạo ra các vimana.

Rõ ràng là những người Ấn Độ tiền sử đã bay trong những cỗ xe này, toàn bộ châu Á, Thái Bình Dương; và thậm chí, dường như, đến Nam Mỹ. Văn bản tìm thấy tại Mohenjodaro, Pakistan và vẫn chưa giải mã được, cũng được tìm thấy trên một nơi khác trên thế giới: đảo Easter, được gọi là bản viết tay Rongo-Rongo, cũng chưa giải mã được, và cũng kỳ lạ giống như bản tại Mohenjodaro.
Có phải đảo Easter là một cơ sở không gian cho các Vimana của đế chế Rama? 



Rama trên chiếc Vimana

Quan niệm điều lành dữ của người phương Tây



      Người ta vẫn nghĩ rằng chỉ có người phương Đông mới tin vào những điềm xảy ra trong cuộc sống hơn là người phương Tây. 

      Nhưng ở phương Tây, người ta tin vào điềm lành dữ có khi còn mãnh liệt hơn các dân tộc Á Đông. Chẳng hạn, có dân tộc ở phương Tây rất kiêng kỵ con số 13. Người ta thường rất kiêng kị xuất hành vào ngày 13 thứ 6 hoặc không ở phòng số 13. Điều kiêng lành dữ này cũng rất cần thiết cho các chiêu đãi viên hàng không và nhân viên khách sạn phải nắm được tâm lý đó khi bố trí buồng phòng, ghế ngồi hay ngày đi của khách phương Tây cho tiện lợi. Dưới đây là một số điểm tiêu biểu được người phương Tây rất tin:
1. Quả táo: nếu bạn thấy có sâu trong quả táo, đó dấu hiệu của may mắn.
2. Giường ngủ: khi bạn vô tình bước ra khỏi giường, lưng hướng trước có nghĩa là một ngày tốt đẹp đang chờ đón.
3. Mèo: khi mèo ngồi quay lưng vào lò sưởi, sắp có thời tiết xấu.
4. Rơi nhẫn: làm rơi nhẫn trong lễ cưới báo hiệu cuộc hôn nhân sóng gió.
5. Tai: khi lỗ tai trái bị nóng có nghĩa là sẽ có ai nói điều tốt cho bạn. Nếu là tai phải họ đang nói điều hằn học với bạn.
6. Lửa: nếu lửa trong lò sưởi tự bùng lên, có người lạ xuất hiện.
7. Găng tay: bạn phải luôn từ chối nhận quà găng tay, nếu không sẽ bị té (ngã).
8. Tóc: lấy một nhúm tóc trên đầu dùng ngón tay luồn qua, nếu có sợi nào cong lại khi bỏ xuống, bạn sẽ phát tài đấy.
9. Chớ có mang dây nho vào nhà, rất xui xẻo.
10. Gõ cửa: gõ cửa vào vách 3 tiếng mà không có lý do, gõ cửa 3 tiếng mà không có ai trong phòng là một điềm xấu.
11. Lá cây: khi lá cây bay vào nhà là điềm may mắn.
12. Gương: làm vỡ gương là xui xẻo nhưng nếu giữ lại tấm gương đó thì còn xui xẻo hơn nữa.
13. Ngày đầu năm: làm điều gì ngày đầu năm, suốt năm sẽ làm nhu thế.
14. Cú: cú kêu 3 lần là điềm xui xẻo.
15. Chim cút: thình lình thấy hay nghe cút kêu là hên.
16. Han rỉ: nếu đồ vật bằng kim loại như chìa khóa, dao han rỉ là dấu hiệu tốt, có nghĩa là có người mang tiền đến cho bạn.
17. Nhện: vào buổi sáng nhìn thấy nhện là mất tiền nhưng nếu thấy trong quần áo đó là điềm tốt.
18. Trà: tiền vô như nước khi rót trà vào tách có bong bóng ở giữa tách.
19. Dù: mở dù (ô che) trong nhà rất xui xẻo hoặc bạn làm rớt dù khi đi đâu đó là điềm chẳng lành.
20. Ngày cưới: nhìn thấy một bầy chim vào buổi sáng sẽ có nhiều con cái. Nếu nhờ ai cắt bánh ngoài cô dâu sẽ rất xui xẻo.
21. Ngáp: khi ngáp phải dùng tay che miệng, bằng không ma quỷ  sẽ chui vào.
22. Giáng sinh: để may mắn, mọi người trong nhà phải đánh chiếc bánh ba lần và chúc tụng nhau. Nếu có trẻ em trong nhà không cho chúng đụng đến, chỉ dùng tay làm dấu.
Tôn A + Mạnh T
Theo New Women

Nghe lỏm tín hiệu của những nền văn minh kỹ thuật






FAST
Thiết kế kính viễn vọng FAST-Trung Quốc

       Hiện nay sự tìm kiếm những nền văn minh trong Vũ trụ dùng kỹ thuật thu tín hiệu vô tuyến, tuy còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng có triền vọng hơn là phóng tàu vũ trụ để thăm dò trực tuyến. 

       Một phương pháp tìm kiếm những nền văn minh trong vũ trụ là phát hiện những dấu hiệu do sự phát triển kỹ thuật do chính những nền văn minh đó tạo ra. Khí quyển của Trái đất chứa những chất hóa học ô nhiễm như Nitơ ôxit trong khói thải xe hơi, hoặc chất fluorocarbon dùng trong kỹ nghệ tạo ra nhiệt độ thấp và trong những bình xon khí bơm để làm gôm giữ tóc. Có những nhà khoa học nghĩ rằng fluorocarbon làm thủng tầng Ozone cần thiết để lọc những tia tử ngoại của Mặt Trời. Những phân tử ô nhiễm này có thể phát hiện bằng máy quang phổ của những viễn kính.

     Ta cũng có thể  “ nghe lỏm” những tín hiệu viễn thông radar, hoặc tín hiệu truyền thanh, truyền hình phát ra bởi một nền văn minh trên một hành tinh có phát triển kỹ thuật tương tự như trên Trái Đất. Tín hiệu của những đài truyền hình có công suất một trăm tới một vạn kW phát ra từ một địa điểm cách xa ta 2 năm ánh sang, có thể thu được bằng những thiết bị hiện đại. Với kính vô tuyến lớn có đường kính 300 mét đặt tại Arexibo ở Puecto Rico, ta có thể phát hiện được những tín hiệu radar 10 tỷ kW phát ra từ một hành tính trong một hệ sao cách xa ta 20 năm ánh sang. Ở tầm xa này chỉ có khoảng 40 hệ sao, quá ít ỏi nên rất ít hy vọng có khả năng có sự sống. Nhưng nếu có phương tiện tài chính đủ để xây một dãy hàng nghìn kính vô tuyến 100 mét đường kính, thì ta có thể nghe lỏm tín hiệu radar phát ra từ trên một hành tinh cách xa Trái Đất 250 năm ánh sáng. Tầm xa này bao gồm một thể tích trong vũ trụ trong đó cso khoảng một triệu hệ sao nên có khả năng có nhiều nền văn minh kỹ thuật phát tín hiệu vô tuyến hơn. Từ tín hiệu thu được và đặc tính của loại sao, ta có thể suy ra vị trí và sự chuyển động của hành tinh trong hệ sao cùng kích thước của ăngten radar được dùng bởi nền văn minh đó. Tín hiệu vô tuyến như radar và truyền hình chỉ phát từng xung trên một miền phổ rất hẹp (độ rộng vài héc tới vài chục héc). Cho tới nay, chưa có một tín hiệu radar hoặc truyền hình nào từ ngoài Trái đất đã lọt vào những máy thu.




Arecino
Đài quan sát Arecino - USA
    Chiếc “đĩa” khổng lồ Arecibo với đường kính 305m đặt trên một miệng núi lửa ở Puerto Rico được xây vào những năm 1960 và được cải thiện đều đặn. Hơn 250 nhà nghiên cứu sử dụng mỗi năm kính viễn vọng to nhất thế giới này.




SETI
Ăng-ten của SETI-California

    SETI là viết tắt của cụm từ Search of Extraterrestial Intelligence (Tìm kiếm các sinh vật thông minh ngoài trái đất) do Phòng Thí nghiệm Không gian Trường ĐH California đề xuất, huy động hàng chục vạn máy tính nối mạng với nhau thông qua Internet, dùng phần mềm đặc biệt phân tích các tín hiệu vô tuyến mà nền văn minh nào đó trong vũ trụ gửi tới để phát hiện ra những “người” ngoài trái đất.
     Họ xây dựng rất nhiều ăng-ten khắp nơi trên thế giới bắt sóng vô tuyến ở khắp nơi, lôi cuốn tới 5,2 triệu người cùng tham gia với hy vọng một lúc nào đó, tại một địa điểm nào đó, sẽ có người tìm được tín hiệu lạ, để phát hiện ra “người” ngoài hành tinh. Họ thường xuyên liên lạc với nhau qua một mạng chung để trao đổi ý kiến, kinh nghiệm, các phát hiện mới của mình và cũng có rất nhiều lần thành công... hụt. Song các thành viên của SETI vẫn không mất đi niềm tin, giống như những tín đồ tôn giáo.
    
      Vào năm 2016, thế giới sẽ có thêm một chiếc kính viễn vọng “khủng” làm nhiệm vụ tìm kiếm người ngoài hành tinh.  Công việc xây dựng đã được tiến hành ở tỉnh Quý Châu, miền nam Trung Quốc, FAST, kính viễn vọng vô tuyến đĩa đơn lớn nhất thế giới, có hình dạng tương tự kính Arecibo tại Puerto Rico. FAST có thể phát hiện vị trí phát sinh cuộc gọi của người ngoài hành tinh cách chúng ta tới 1.000 năm ánh sáng.

Kiến trúc sư nổi tiếng thời đại Phục Hưng




Nhà thờ Santa Maria del Fiore (Duomo)
Nhà thờ Santa Maria del Fiore (Duomo)

Các kiến trúc sư nổi tiếng nhất thời kỳ Phục Hưng Italya phải kể đến là:
Ø                                                     Brunelleschi

Ø                                                     Albeti
Ø                                                     Bartolomeo
Ø                                                     Bramante
Ø                                                     Michelangelo
Ø                                                     Palladio
1. Filippo Brunelleschi (1377-1446)

          Là kiến trúc sư lớn nhất của nền kiến trúc Phục Hưng tiền kỳ. Ông là tác giả của Dục Anh, Viện Florence (xây dựng vào những năm 1421-1424) và là người lợp chiếc vòm mái nổi tiếng  của nhà thờ Florence (vào năm 1436).



Filippo Brunelleschi
Filippo Brunelleschi (1377-1446)
         Brunelleschi  là một người đa năng: một kỹ sư tài ba, một kiến trúc sư, họa gia kiệt xuất.
         Trước Brunelleschi, ngôi nhà thờ lớn  Santa Maria des Fiori ở Florence xây dựng đầu thế kỷ XIV chưa có ai thiết kế và xây dựng nổi chiếc mái vòm đồ sộ của nó. Chính Brunelleschi với kỹ thuật lỗi lạc, đã táo bạo úp lên phần chính hình tròn 6 cạnh của nhà thờ cái mái vòm đồ sộ từ trên độ cao 600m. Đây là một ví dụ mẫu mực cho hàng loạt mái vòm khác của thời đại này.



Duomo
Mặt tiền nhà thờ Duomo
          Alberti (1404-1472), kiến trúc sư, nhà lý thuyết kiến trúc ra đời sau Brunelleschi ít lâu đã phải thừa nhận tài năng của kiến trúc sư-họa sĩ của Brunelleschi như sau: “Tôi khâm phục những tấm gương của nhiều người, nhưng trước hết là khâm phục anh Filippo, và người bạn than yêu Donatello của chúng ta với cống hiến của mình, hai người đã không thua kém gì những cổ nhần đầy vinh quang…”      



Dục Anh Viện (Foundling Hospital)
Mặt tiền Dục Anh Viện (Foundling Hospital)



Milano
Milano Grazie
2. Kiến trúc sư Bramante
          Những thiên tài của nền kiến trúc văn nghệ Phục Hưng như Bramete, Michelangelo và nhiều kiến trúc sư lớn khác như Peruzzi, San Gallo, Cacio Maderna đã tham gia vào việc xây dựng Nhà thờ Saint Pierre thuộc vào loại có một không hai trên thế giới ở Roma. Trong hơn nữa thế kỷ, họ nối tiếp nhau gánh vác công việc nặng nề nhưng vinh quang này. Nhưng công đầu thuộc về Bramante và Michelangelo.



Bramante
Bramante
           Danoto Bramante (1444-1514) đã là người đặt nền móng cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng Nhà thờ Saint Pierre phương án xây dựng nhà thờ này của ông được giải thưởng năm 1505, vào lúc tài năng của ông nở rộ.
           Bramante chính là người chủ trương kiến trúc phải là không gian ba chiều chứ không phải hai chiều, ông chú ý đến hình khối chứ không phải mặt phẳng. Ở Milano ông đã làm bạn với Leonardo da Vinci, một người rất coi trọng hình khối.
         Chính Bramante là người đã định hình một phong cách Phục hưng chính thống ở Roma, giúp Giáo hoàng thể hiện được đường lối phát triển mạnh mẽ của ông ta dưới chiêu bài: “Urbiet Orbi” (thống trị La Mã và thống trị Thế giới).



Vatican
Tòa thánh Vatican
         Bramante mang hoài bão lớn xây dựng một tấm bia kỷ niệm cho một thời đại, ông thiết kế mặt bằng kiểu tập trung, bảo đảm cho nội thất sáng sủa, hài hòa, không có sắc thái thần bí.
         Phong cách của Bramante đã được định hình qua tác phẩm Tempietto ở Montorio và một số công trình như các sân lớn tòa Thánh Vatican; sân Saint Damat và sân Belvedere.

3. Kiến trúc sư Michelangelo (1475-1564)
        Là một hoạ sĩ nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà thơ và kỹ sư thời kỳ Phục hưng Italia. Dù ít có những đột phá bên ngoài nghệ thuật, sự uyên bác của ông trong các lĩnh vực đạt tới tầm mức khiến ông được coi là một người xứng đáng với danh hiệu nhân vật thời Phục hưng, cùng với đối thủ và là người bạn Leonardo da Vinci.



Michelangelo

Michelangelo (1475-1564)

       Khả năng sáng tạo của Michelangelo trong mọi lĩnh vực ông tham gia trong suốt cuộc đời dài của mình rất phi thường; khi tính cả các thư từ, phác thảo, ký sự còn lại, ông là nghệ sĩ được ghi chép đầy đủ nhất về cuộc đời ở thế kỷ 16. Hai trong số các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông Pietà David, được thực hiện trước khi ông sang tuổi 30. Dù ông không được đánh giá nhiều trong hội hoạ, Michelangelo cũng đã tạo ra hai trong các tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất trong thể loại bích hoạ trong lịch sử Nghệ thuật phương Tây: các cảnh Chúa sáng tạo ra thế giới trên trần và Sự phán xét cuối cùng trên bức tường bệ án thờ Nhà nguyện Sistine ở Rome. Là một kiến trúc sư, Michelangelo là người tiên phong trong phong cáchMannerist tại Thư viện Laurentian. Ở tuổi 74 ông kế tục Antonio da Sangallo Trẻ trở thành kiến trúc sư của Nhà thờ thánh Peter. Michelangelo đã thay đổi đồ án, góc phía tây được hoàn thiện theo thiết kế của Michelangelo, mái vòm được hoàn thành sau khi ông mất với một số sửa đổi.



Sistine
Michelangelo đã vẽ trên trần Nhà nguyện Sistine
        Một ví dụ về vị trí độc nhất của Michelangelo, ông là nghệ sĩ phương Tây đầu tiên có tiểu sử được xuất bản khi đang còn sống. Hai cuốn tiểu sử đã được xuất bản trong khi ông đang sống; một trong số đó, bởi Giorgio Vasari, cho rằng ông là động cơ của mọi thành tựu nghệ thuật từ khi bắt đầu thời kỳ Phục hưng, một quan điểm vẫn tiếp tục được ủng hộ trong lịch sử nghệ thuật trong nhiều thế kỷ. Trong đời mình, ông cũng thường được gọi là Il Divino ("người siêu phàm"). Một trong những phẩm chất của ông được những người đương thời ngưỡng mộ nhất là terribilità, một cảm giác kính sợ trước sự vĩ đại, và các nỗ lực của những nghệ sĩ thời sau học theo phong cách say mê và rất cá nhân của ông đã dẫn tới Mannerism, phong trào lớn tiếp sau trong nghệ thuật phương Tây sau thời Đỉnh cao Phục hưng.